Hiển thị các bài đăng có nhãn giá nhà. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giá nhà. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 10, 2014

Đi làm 7 năm, các cặp vợ chồng Việt mua được nửa căn nhà

Dựa trên khảo sát lương ở hơn 500 lao động có trình độ tại các đô thị lớn của Việt Nam, CBRE đánh giá các cặp vợ chồng tại TP HCM và Hà Nội có nghề nghiệp và thu nhập ổn định có thể bắt đầu mua căn nhà từ năm thứ 7 trở đi.


Theo đơn vị tư vấn khảo sát bất động sản này, tỷ lệ tiết kiệm cho năm đầu tiên của một cặp vợ chồng đều đi làm (lương 900 USD/tháng trở lên) là 10% thu nhập. Con số này tăng lũy kế lên hàng năm, có tính đến mức tăng trưởng thu nhập.

Nghiên cứu này phân tích, sau 7 năm nỗ lực, một gia đình trẻ có thể tiết kiệm đến 800 triệu đồng, trong đó từ năm thứ ba trở đi tỷ lệ tiết kiệm tăng 20-50% so với những năm đầu. Nếu xem xét mua một căn nhà hạng trung có giá 1,6 tỷ đồng, khoản tiết kiệm 800 triệu đã đủ chi trả 50% giá trị căn hộ. Phần còn lại có thể vay từ ngân hàng hoặc từ gia đình hoặc các mối quan hệ. Thực tế cho thấy những cặp vợ chồng trẻ thường nhận được hỗ trợ từ gia đình hai phía để có thể sở hữu căn nhà sớm hơn hoặc có giá trị cao hơn.

Ước tính tổng chi phí mua nhà trong phân tích này bao gồm: giá trị bất động sản, chi phí vay, chi phí cơ hội và tiền thu ròng khi bán bất động sản. Bài toán được tính cụ thể là một cặp vợ chồng cần căn hộ có giá trung bình 1,6 tỷ đồng sẽ dùng khoản tiết kiệm 800 triệu đồng để trả trước (down-payment) một nửa giá trị căn hộ. Quá trình vay thế chấp phần còn lại của bất động sản với kỳ hạn 15 năm. Tỷ lệ nợ trên giá trị tài sản thế chấp là 50%. Giả định rằng lãi suất vay thế chấp trung bình sẽ là 12% một năm trong suốt kỳ hạn của khoản vay.  
Theo khảo sát của CBRE, các cặp vợ chồng sống tại TP HCM và Hà Nội có thu nhập ổn định sau 7 năm tích lũy có thể mua 50% căn nhà. Ảnh: Vũ Lê 
Giả sử trong suốt kỳ hạn này, người vay tiền không trả tiền trước khi đến hạn, thanh toán hàng tháng cho khoản vay (cả gốc và lãi) là 9,6 triệu đồng, tổng chi phí vay cho việc mua căn hộ sẽ là 1,7 tỷ đồng. Nếu gộp lại, tổng chi phí cho việc mua căn hộ sẽ là 2,5 tỷ đồng, trong đó chi phí trả lãi tiền vay là 928 triệu đồng (54% tổng chi phí vay và 37% tổng chi phí mua nhà).  

CBRE cũng tính đến chi phí cơ hội được tính toán dựa trên lợi ích có thể kiếm được nếu khoản tiền trả trước (downpayment) được giữ trong một tài khoản tiền gửi cố định cho đến khi căn hộ được bán vào cuối năm thứ 15. Lãi suất huy động được giả định là 4% một năm. Khi khoản vay được thanh toán đầy đủ, bất động sản này sẽ được bán với mức tăng 15% so với giá trị căn hộ ban đầu và số tiền thu được sẽ là 1,84 tỷ đồng. Tỷ lệ tăng giá này được dựa trên quan sát sự lên giá căn hộ và tỷ lệ lạm phát của Việt Nam trong 8 năm qua. Tính cả sự tăng giá giá căn hộ và tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ tăng giá ròng cho căn hộ ở ví dụ này được giả định là 1% mỗi năm, tương đương 15% trong 15 năm. 

Đơn vị tư vấn này nhận định, mặc dù giá nhà tại Việt Nam thường cao so với mức thu nhập trung bình của người dân và trong khoảng 10 năm trước giá nhà được xem là ngất ngưỡng nhưng hiện nay tình thế đã được cải thiện.

Thị trường bất động sản đã chững lại trong 8 trở lại đây, giá bất động sản đã được điều chỉnh xuống mức mềm hơn. Ngoài ra, với việc ngày càng có nhiều đơn vị cả trong và ngoài nước tham gia thị trường, nhiều nguồn cung đã được bung ra làm tăng thêm lựa chọn cho khách hàng và do đó, thị trường trở nên cạnh tranh hơn.

Do sự tràn ngập của các dự án căn hộ giá rẻ trong vòng 2 năm qua với những căn hộ nhỏ có giá cả phải chăng, từ 500 - 800 USD/m² đã khiến cho việc sở hữu một căn hộ trở nên khả thi hơn.
Vnexpress

Thứ Tư, 17 tháng 9, 2014

10 năm nữa cũng khó xảy ra “sốt” đất

“Cơn sốt đất nào cũng có tác hại làm méo mó thị trường, tăng giá đột biến, khi nó trở về thực tại gây thất thoát, đổ vỡ lớn…Tuy nhiên, sốt đất khó có thể xảy ra nữa, ít nhất trong vòng 10 năm tới".

Theo một nghiên cứu của CBRE, bất động sản (BĐS) luôn có sự thay đổi ở từng thời kỳ. Cụ thể, năm 1999 – 2003 là giai đoạn thị trường mới nổi nên đất nền là phân khúc được ưa thích nhất. Đến năm 2004 – 2006, khi có lệnh cấm phân lô bán nền cùng với việc chi phí đền bù tăng thì người dân lại có nhu cầu chuyển sang mua căn hộ.

2007 – 2008 là thời điểm thị trường BĐS đạt đỉnh cao và kinh tế hưng thịnh, các nhà đầu tư chiếm lĩnh thị trường, diện tích căn hộ lớn ồ ạt xuất hiện. Đây cũng là thời kỳ thị trường “hút” nhiều tiền mặt và phát triển mạnh. Thế nhưng, đến năm 2009 – 2010, do ảnh hưởng nặng nề bởi sự bất ổn kinh tế trong nước và toàn cầu nên  thị trường BĐS dẫn đến suy thoái, nhà đầu cơ ít dần.

Sang năm 2011 – 2012 thì kinh tế suy yếu, lại thiếu tiền mặt nên thị trường nhà đất cũng trầm lắng, đóng băng. Phân khúc căn hộ đã được chuyển sang chủ yếu là diện tích nhỏ để hợp với nguồn cầu. Cho đến nay, thị trường BĐS dù đã có nhiều giao dịch, thanh khoản tăng hơn nhưng vẫn chưa thoát hẳn khó khăn.

Tuy nhiên, nhìn lại chặng đường phát triển của thị trường nhà đất, nhất là thời điểm xảy ra những cơn “sốt” đất vào các năm 1991 – 1993, 2001 – 2003, đặc biệt là 2007 – 2008 nhiều người vẫn không thể quên những hệ quả mà nó để lại.

Ông Nguyễn Văn Đực, Phó Chủ tịch Hiệp hội bất động sản TP Hồ Chí Minh cho rằng, cơn sốt đất năm 2007 – 2008 đáng chú ý nhất khi nhà nhà đều kinh doanh đất, cơn sốt xảy ra khắp cả nước.

“Cơn sốt nào cũng có tác hại làm méo mó thị trường, tăng giá đột biến, khi nó trở về thực tại gây thất thoát, đổ vỡ rất lớn. Những ai tham gia sớm, rút khỏi thị trường sớm thì thu được nhiều tiền, còn ai tham gia muộn và chưa kịp rút ra khỏi thị trường thì đổ vỡ lớn. Giống như chứng khoán, có thời kỳ đã khiến nhiều người, nhiều gia đình giàu lên rất nhanh, nhưng cũng có nhiều người đến nay còn chưa trả hết nợ nần”, ông Đực nhận xét.

Vị lãnh đạo này khẳng định: "Không ai mong muốn xảy ra những cơn sốt đất vì nó là bi kịch của nền kinh tế thiếu sự định hướng, bi kịch cho doanh nghiệp thiếu sự thận trọng cân nhắc sản phẩm, bi kịch cho người dân khi chạy theo lợi ích mù quáng. Khi xảy ra những cơn sốt thì người dân là người chịu thiệt hại nhất, rồi mới tới doanh nghiệp và nhà nước".

Thời gian tới liệu có thể xảy ra “sốt” đất? Ông Đực nhận định: “Sốt đất khó có thể xảy ra nữa, ít nhất trong vòng 10 năm tới, vì hiện nguồn cung hiện đang quá nhiều, cùng với đó đã có nhiều doanh nghiệp bất động sản đổ vỡ nên giá nhà đất khó tăng trong thời gian 5 – 10 năm tới.

Hơn nữa, qua những cơn sốt đất đã xảy ra, người dân cũng như doanh nghiệp đã tự rút ra được kinh nghiệm và bài học để tránh sai lầm, khi không có sai lầm thì không thể có những cơn sốt”.

Từ góc độ quản lý, ông Vũ Văn Phấn - Phó Cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường BĐS (Bộ Xây dựng) cũng từng nhận định, khó có thể xảy ra “sốt” đất bởi qua các lần sốt vừa rồi, nhất là đợt sốt năm 2008-2009, giá nhà đất được đẩy lên rất cao. Sau đợt đó, thị trường gặp khó khăn, hàng tồn kho tăng cao, sản phẩm BĐS không bán được. Chính điều đó đã mang đến những kinh nghiệm cho chủ đầu tư trong việc cung cấp và định hình phân khúc sản phẩm. Bên cạnh đó, các nhà đầu cơ, người có nhu cầu thực về BĐS cũng có những bài học và kiến thức về thị trường.

Theo TS Lê Xuân Nghĩa, thị trường BĐS phụ thuộc rất nhiều vào tăng trưởng kinh tế. Kinh tế tăng trưởng chậm nên thị trường BĐS cũng khó “sốt”.

Bên cạnh đó, hiện mục tiêu tăng trưởng tín dụng 12% toàn hệ thống ngân hàng năm 2014 vẫn rất khó khăn. Trong đó, chưa kể đến các khoản được cơ cấu lại nợ, kể cả những khoản “lách” của ngân hàng để tăng trưởng tín dụng. Triển vọng thúc đẩy tăng trưởng tín dụng khó trở lại nhanh vì nợ xấu khó xử lý nhanh, nhiều vấn đề về tái cơ cấu ngân hàng chưa được thực hiện đến tận gốc rễ…

Vì thế, theo chuyên gia này, để phục hồi tăng trưởng tín dụng có thể kéo dài vài ba năm. Và thị trường BĐS phụ thuộc rất nhiều vào tăng trưởng tín dụng.

Theo Infonet